Kết quả 1 đến 2 của 2
  1. #1
    thanglong's Avatar
    thanglong Đang Ngoại tuyến Senior Member
    Ngày tham gia
    Mar 2010
    Bài viết
    201

    Mặc định Thăng Long thời Trần: Các sự kiện lịch sử chính

    Thăng Long thời Trần: Các sự kiện lịch sử chính

    CUỘC CHUYỂN GIAO CHÍNH QUYỀN NHÀ LÝ SANG NHÀ TRẦN
    Vào cuối triều Lý, tình hình chính trị, xã hội trên toàn quốc, cũng như tại kinh thành Thăng Long hết sức rối loạn. Các thế lực chính trị quân sự phong kiến cát cứ tranh giành quyền lợi, địa vị đã bắt nhân dân dưới quyền kiểm soát của mình đi lính, xua ra trận mạc chém giết lẫn nhau. Nhân dân còn bị bắt đi đào hào, đắp lũy cho triều đình và các quý tộc cát cứ. Trong những trận đánh nhau, các thế lực phong kiến không ngần ngại phá hủy đê điều để phục vụ mục đích chiến tranh, do đó mà mùa màng bị phá hủy, nhà cửa, tài sản bị chìm đắm.

    Về phần triều đình nhà Lý thì đã lung lay tới tận gốc rễ. Vua Lý Huệ Tông từ lâu đã phát cuồng, “khi thì xưng là thiên tướng giáng hạ, tay cầm giáo mộc, cắm cờ nhỏ trên búi tóc, đùa giỡn múa may từ sáng sớm đến quá trưa mới thôi, khi thì lại toát mồ hôi, người ráo khát, uống rượu ngủ li bì, đến mãi hôm sau mới tỉnh“ (Toàn thư, tập I, H. 1998, tr.337).

    Lý Huệ Tông không có con trai, chỉ có hai con gái: con gái cả là công chúa Thuận Thiên, đã gả cho Trần Liễu (con cả Trần Thừa), con gái thứ hai là công chúa Chiêu Thánh, mới 7 tuổi. Huệ Tông nhường ngôi cho Chiêu Thánh - tức là Lý Chiêu Hoàng - rồi lên làm Thái thượng hoàng, sau đó xuất gia ở chùa Chân Giáo.

    Sự suy thoái của chính quyền trung ương cuối thời Lý đã dọn đường cho họ Trần lên ngôi vua. Đầu năm 1224, Trần Thừa được cử làm Phụ Quốc thái úy, Phùng Tá Chu làm Nội thị phán thủ, Trần Thủ Độ làm Điện tiền chỉ huy sứ, thống lĩnh các quân Hộ vệ Cấm đình. Việc bố trí cho công chúa Chiêu Thánh lên ngôi là nằm trong dự tính của Trần Thủ Độ, với sự hỗ trợ của Trần Thái hậu (tức Trần Thị Dung, vợ vua Huệ Tông, sau này là Linh từ quốc mẫu, phu nhân của Trần Thủ Độ). Đây chính là điểm mấu chốt trong toàn bộ kế hoạch tiến hành chuyển giao quyền lực từ họ Lý sang họ Trần của chính trị gia Trần Thủ Độ. Bài toán chính trị đặt ra đối với dòng họ Trần nói chung và Trần Thủ Độ nói riêng là hoặc tiếp tục duy trì vương triều Lý hoặc thay thế nó, tạo dựng một triều đại mới. Và nếu như thay thế nó, giành ngôi báu cho nhà Trần thì bằng con đường nào?

    Tính quyết đoán cao và sự khôn ngoan nhạy bén chính trị của Trần Thủ Độ là việc đưa Trần Cảnh mới 8 tuổi vào làm chức Chánh thủ, tức chức quan chực hầu bên Lý Chiêu Hoàng. Từ đó, dẫn tới việc Lý Chiêu Hoàng “cho“ Trần Cảnh “nước“, được sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại khá sinh động: “Cảnh lúc bấy giờ mới lên 8 tuổi, chực hầu ở bên ngoài. Một hôm phải giữ việc bưng nước rửa, nhân thế vào hầu bên trong. Chiêu Hoàng trông thấy lấy làm ưa mỗi khi chơi đêm cho gọi Cảnh đến cùng chơi, thấy Cảnh ở chỗ tối thì thân đến trêu chọc, hoặc nắm lấy tóc, hoặc đứng lên bóng. Có một hôm, Cảnh bưng chậu nước đứng hầu, Chiêu Hoàng rửa mặt lấy tay vốc nước té ướt cả mặt Cảnh rồi cười trêu, đến khi Cảnh bưng khăn chầu thì lấy khăn ném cho Cảnh. Cảnh không dám nói gì, về nói ngầm với Thủ Độ. Thủ Độ nói: “Nếu thực sự như thế thì họ ta thành hoàng tộc hay bị diệt tộc đây? “. Lại một hôm, Chiêu Hoàng lấy khăn chầu ném cho Cảnh, Cảnh lạy rồi nói: “Bệ hạ có tha tội cho thần không? Thần xin vâng mệnh“. Chiêu Hoàng cười và nói: “Tha tội cho ngươi. Nay ngươi đã biết nói khôn đó“. Cảnh lại về nói với Thủ Độ. Thủ Độ sợ việc tiết lộ thì bị giết cả, bấy giờ mới tự đem gia thuộc thân thích vào trong cung cấm. Thủ Độ đóng cửa thành và các cửa cung, sai người coi giữ, các quan không được vào chầu. Thủ Độ loan báo rằng: “Bệ hạ đã có chồng rồi“. Các quan đều vâng lời, xin chọn ngày vào chầu (Toàn thư, tập I. Sđd, tr. 339).

    Ngày 21 tháng 10 năm Ất Dậu (1225), các quan vào chầu lạy mừng. Ngày 11 tháng 12 năm ấy, Chiêu Hoàng mở hội lớn ở điện Thiên An, ngự trên sập báu, các quan mặc triều phục vào chầu, lạy ở dưới sân. Chiêu Hoàng bèn trút bỏ áo ngự mời Trần Cảnh lên ngôi hoàng đế. Trần Cảnh lên ngôi vua, tức là Trần Thái Tông (1225-1258). Chính nhờ sự quyết đoán mưu trí của Trần Thủ Độ mà cuộc đảo chính cung đình tại Thăng Long diễn ra cuối triều Lý, kết quả đạt được rất tốt đẹp cho dòng họ Trần, tránh khỏi phải đổ máu như thường thấy trong những trường hợp tương tự. Hơn thế nữa, do ở tài sắp đặt của Trần Thủ Độ, cuộc đảo chính cung đình ấy lại được tiến hành bằng một cảnh tượng đầy tính biểu trưng, thông qua cuộc hôn nhân giữa Lý Chiêu Hoàng với Trần Cảnh. Một sự chuyển giao chính quyền đầy kịch tính và không kém phần thi vị.
    PHẬT GIÁO THIỀN TÔNG PHÁT TRIỀN
    Đến cuối đời Lý, Phật giáo ở nước ta có 3 thiền phái lớn là Tì-ni-đa-lưu-chi (580), Vô Ngôn Thông (826) và Thảo Đường (l069) đã hiện hữu và truyền bá rộng trên phạm vi toàn quốc. Bước sang thời Trần, Phật giáo càng được phát triển và thống nhất về một mối. Và kinh đô Thăng Long có vinh dự là mảnh đất đã sinh thành hoặc nuôi dưỡng nhiều thiền sư, nhiều nhà nghiên cứu thiền học nổi tiếng như Trần Thái Tông, Trần Tung (tức Tuệ Trung thượng sĩ) (1) Trần Nhân Tông... Thăng Long cũng là nơi chứng kiến sự xuất hiện những tác phẩm thiền học nổi tiếng như: Khóa hư lục, Thiền tông chi nam, Lục thì sám hối khoa nghi… của Trần Thái Tông, Phóng cuồng ca, Thượng sĩ ngữ lục của Tuệ Trung thượng sĩ, Thiền lâm thiết chúng ngữ lục, Trúc Lâm hậu lục, Thạch thất my ngữ, Cư trần lạc đạo phú v.v... của Trần Nhân Tông; Tham thiền chỉ yếu, Kim cương đạo trường Đà-la-ni-kinh, Tán pháp hoa kinh khoa sứ… của Pháp Loa... Người mở đầu triều đại nhà Trần cũng là người nêu tấm gương sáng cho việc tu tập, nghiên cứu Thiền học của vương triều Trần là vua Trần Thái Tông. Và tại mảnh đất Thăng Long này, Trần Thái Tông từng đã có một hành động rất dứt khoát, quyết liệt là từ bỏ ngai vàng để đi đến với đạo Phật. Đó là vào năm ông 20 tuổi, Chiêu Hoàng 19 tuổi mà chưa có con. Trần Thủ Độ sợ không người nối ngôi, đã ép Thái Tông bỏ Chiêu Hoàng lấy chị dâu - vợ Trần Liễu, đồng thời là chị ruột của Chiêu Hoàng - khi đó đang có thai (với Trần Liễu). Tình cảnh bi kịch, không chịu đựng được, Thái Tông bỏ ngai vàng, đang đêm rời Thăng Long lên núi Yên Tử để tu Phật. Tất nhiên Thủ Độ không chịu, lên Yên Tử dùng nhiều áp lực buộc Thái Tông phải về Thăng Long. Tuy vậy sau này Thái Tông là một vị vua tài năng, rất quan tâm đến công việc nội trị và đã lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ thắng lợi vào năm 1258.
    VĂN HỌC ĐỜI TRẦN
    Về văn học, đời Trần có khá nhiều thành tựu. Văn học chữ Hán đã thu nhận hầu hết các thể loại văn Trung Quốc: chiếu, biểu, hịch, luận thuyết, truyện ký, tản văn, thơ, từ, ca, phú. Các thể loại này được sử dụng và phát triển trong suốt hành trình văn học trung đại của Thăng Long và của cả nước.

    Trước hết nói về văn học Thiền, vì nhà Trần vẫn tiếp tục trọng Phật giáo. Tuy nhiên, nếu như văn học Thiền đời Lý chú ý nhiều đến việc bàn giải những vấn đề triết học đậm chất trí tuệ thì văn học Thiền đời Trần (chủ yếu hình thành ở Thăng Long) lại quan tâm cụ thể đến số phận con người hơn và do vậy thơ văn lúc này đậm chất trữ tình hơn. Có một cây đại thụ Trần Tung cuồng phóng với những vần thơ hào sảng:
    Trời đất liếc trông chừ, sao mênh mang!
    Chống gậy nhởn nhơ chừ, phương ngoài phương!
    Hoặc cao cao chừ, mây đỉnh núi
    Hoặc sâu sâu chừ, nước trùng dương.
    (1)
    Có những nhà vua - triết gia như Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông với những Khoá hư lục, những bài phú Nôm luận về vũ trụ, về nhân sinh, không đời nào và người nào có thể lặp lại. Rồi các sư Pháp Loa, Huyền Quang cũng có những tiếng thơ tiếng lòng độc đáo... Song âm hưởng chủ đạo của văn học nửa đầu đời Trần thì phải là "hào khí Đông A". Đó là những vần thơ hào sảng thể hiện niềm tin vững chắc vào sức mạnh của dân tộc, tin ở vương triều và tin ở chính mình. Tiêu biểu cho xu hướng thơ ca ấy là những nhà thơ - chiến tướng, nhà thơ - lãnh tụ, nhà thơ - sứ thần, như Trần Nhân Tông, Trần Quang Khải, Nguyễn Trung Ngạn... Sử sách còn ghi rằng giữa lúc cuộc kháng chiến gay go nhất, nhà Trần phải "bỏ ngỏ" Thăng Long, hai vua Thánh Tông và Nhân Tông phải chạy ra vùng Hải Đông. Thế mà Nhân Tông vẫn viết vào đuôi thuyền hai câu thơ thể hiện niềm tin sắt đá vào dân tộc mình:
    Cối Kê chuyện cũ người nên nhớ,
    Hoan Diễn còn kia mười vạn binh.
    (Cối Kê cựu sự quân tu ký
    Hoan Diễn do tồn thập vạn binh) (1)
    Đó cũng chính là niềm tin của Trần Quang Khải trong Tòng giá hoàn kinh sư, và cả sau này nữa trong thơ Trần Minh Tông khi hồi tưởng về chiến thắng Bạch Đằng:
    Ánh nước chiều hôm nào màu đỏ khé,
    Ngỡ rằng máu giặc vẫn chưa khô.
    (Giang thủy đình hàm tà nhật ảnh,
    Thác nghi chiến huyết vi tằng căn Bạch Đằng giang) (2)
    Tráng khí đó còn gặp lại trong Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu. Khí thế trận đánh quân Nguyên Mông năm xưa vẫn như hừng hực trên trang giấy:
    Muôn đội thuyền bày;, rừng cờ phấp phới
    Hùng hổ sáu quân; giáo gươm sáng chói
    Ánh nhật nguyệt chừ phảimờ,
    Bầu trời đất chừ sắp hoại. (3)
    Tuy nhiên viên ngọc sáng của văn học yêu nước đời Trần phải là bài Dụ chư tỳ tướng hịch văn của Trần Hưng Đạo. Tác giả đã không chỉ tuyên ngôn chung về chủ quyền, về ý chí bảo vệ đất nước mà còn nói cụ thể hơn đến trách nhiệm người dân (thông qua các tướng sĩ). Đất nước gặp hoàn cảnh hiểm nghèo, giặc dữ đe dọa. Bảo vệ non sông, đánh đuổi xâm lược là danh dự, là nghĩa vụ, là tình cảm của mỗi con người thời đó. Dù Hưng Đạo Vương chủ yếu là răn bảo các tỳ tướng của mình nhưng cũng là đã chỉ rõ tình hình thời cuộc. Ông nhắc nhở tướng sĩ nhưng cũng chính là gián tiếp tỏ rõ tinh thần thời đại. Đó chính là cơ sở tư tưởng để những chàng trai nông dân dù ít chữ nghĩa vẫn thích vào tay hai chữ Sát Thát. Đó cũng chính là nền tảng tư tưởng để có một quan niệm độc đáo về công danh như Phạm Ngũ Lão:
    Ngang đáo non sông đã mấy thu,
    Ba quân sài hổ chí thôn ngưu
    Công danh nam tử chưa xong nợ
    Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu
    (Lời dịch)


  2. #2
    thanglong's Avatar
    thanglong Đang Ngoại tuyến Senior Member
    Ngày tham gia
    Mar 2010
    Bài viết
    201

    Mặc định

    BA LẦN THẮNG QUÂN MÔNG-NGUYÊN
    1. Năm 1225 triều Trần thay thế triều Lý . Cũng trong thời gian này các đoàn quân viễn chinh của chúa Mông Cổ Thành Cát Tư Hãn đang tung hoành trên lục địa Á - Âu. Năm 1257, cháu nội của Thành Cát Tư Hãn là Hốt Tất Liệt sau khi chiếm được nước Đại Lý (nay là vùng Vân Nam, Trung Quốc) đã sai Ngột Lương Hợp Thai thừa thế đánh xuống nước ta hòng biến Đại Việt thành bàn đạp tấn công nhà Tống từ phía Nam. Tháng chạp, Ngột Lương Hợp Thai cho quân vượt biên giới, tiến theo triền sông Hồng. Ngày 12 tháng chạp (17-1 - 1258) chúng đến cánh đồng Bình Lệ rồi bờ sông Cà Lồ (nay thuộc huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc) thì vấp phải phòng tuyến chống cự của ta do vua Trần Thái Tông đích thân chỉ huy. “Vua Thái Tông xông pha trong làn tên đạn, đôn đốc tướng sĩ đánh giặc. Tướng Lê Tần gan dạ hiên ngang cưỡi ngựa ra vào trận giặc, sắc mặt như thường” (Toàn thư). Nhưng rồi trận địa của ta bị lấn dần. Bấy giờ có người khuyên vua ra đứng ở nhà trạm để chỉ huy trận đánh. Song trước sức tấn công ồ ạt của giặc, Lê Tần, vị tướng dũng cảm và mưu trí ấy biết rằng thế quân ta chưa thể lấn lướt được kẻ thù nên kiên quyết thuyết phục vua Trần tạm lui. Nhà vua nghe theo, lui về bến Lãnh Mỹ (nay là xóm Bến, làng Thịnh Kỷ, huyện Mê Linh, Vĩnh Phúc) thì xuống thuyền. Giặc đuổi tới gần, đứng trên bờ bắn xuống. Lê Tần đã lấy ván thuyền che cho vua. Thuyền quân ta an toàn xuôi về Phù Lỗ. Như vậy, âm mưu cướp thuyền, bắt sống vua tôi nhà Trần của Ngột Lương Hợp Thai bị thất bại. Ngày hôm sau, 13 tháng chạp (18-1-1258) vua Trần cho phá cầu Phù Lỗ (cầu này ở lùi một đoạn về phía tây nam cầu Phù Lỗ ngày nay). Một phòng tuyến được lập ở bờ nam sông Cà Lồ để tiếp tục kìm hãm quân địch. Khi chúng đã sang được sông, quân ta vừa đánh vừa tiếp tục lui về hướng Thăng Long. Lúc này triều đình nhà Trần có một quyết định sáng suốt và kịp thời: tạm thời rút khỏi kinh thành về đóng ở Thiên Mạc (Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên) đồng thời huy động toàn thể nhân dân Thăng Long tản cư để biến nơi đây thành “vườn không nhà trống“. Cho nên khi giặc tràn tới thì phố phường vắng ngắt. Chúng chỉ còn tìm ra trong nhà ngục những tên sứ giả mà trước đây chúng phái sang để đe dọa vua Trần. Thế là dù chiếm được Thăng Long nhưng giặc không tìm được một kẻ cộng tác, không moi được một hạt thóc. Giữa một tòa thành trống rỗng, vắng lặng, quân Mông gặp khó khăn nhiều về hậu cần. Chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh và cướp lương thực để nuôi quân của giặc bị phá sản. Hẳn là nắm được tình trạng hoang mang và bế tắc đó của quân thù nên chỉ chín ngày sau đó, vào ngày 29-1-1258 tức 24 tháng chạp, từ Thiên Mạc, quân ta ngược sông Hồng về lại Thăng Long mở một cuộc tiến công quyết liệt vào Đông Bộ Đầu là bến sông lớn của Thăng Long ngày đó. Quân giặc mau chóng bị đánh bật ra khỏi kinh thành, chỉ còn nghĩ tới chuyện tháo chạy về Vân Nam. Cuộc kháng chiến chống Mông Cổ lần thứ nhất đã giành được thắng lợi.

    2. Cuối tháng 1-1285 quân Nguyên (sau khi chiếm được phía Bắc nước Tống vào năm 1271, Mông Cổ lấy tên là Đại Nguyên) sang xâm lược lần thứ hai. Nạp Tốc Lạt Đinh từ Vân Nam đem quân tiến theo lưu vực sông Chảy. Thoát Hoan là tổng chỉ huy theo đường Quảng Tây xuống. Ngày 12 tháng giêng Ất Dậu (17-2-1285) giặc đến bờ bắc sông Hồng. Chúng vấp phải tuyến phòng ngự của ta, những cỗ pháo được dàn trên bãi, thuyền chiến được bố trí dọc sông, rào gỗ được dựng lên làm chiến lũy. Khi giặc đến quân ta đã khai pháo, reo hò thách đánh. Chiều hôm đó, để nắm rõ tình hình địch, vua Trần đã sai Đỗ Khắc Chung sang trại Ô Mã Nhi điều tra với danh nghĩa là “cầu hòa“. Trước sự uy hiếp của tên tướng giặc này, Khắc Chung đã bình tĩnh đối đáp khiến giặc phải khâm phục. Sáng hôm sau, Khắc Chung trở về. Ô Mã Nhi hối hận đã thả Khắc Chung, cho quân đuổi theo, nhưng không kịp. Hôm đó quân ta đã giao chiến với quân Nguyên trên bờ sông Hồng. Nhưng trận đánh này chỉ nhằm mục đích kìm chân địch để cuộc rút lui của triều đình và nhân dân ra khỏi Thăng Long được an toàn. Khi cả kinh thành trống rỗng thì Thoát Hoan mới vượt được sông. Song hắn chỉ mới dám đóng quân ở ngoài thành. Mãi hôm sau (19-2-1285), sau khi dò biết trong thành không có người hắn mới dám vào. Từ đó giặc đang trên thế mạnh, tiến đánh càn quét nhiều nơi. Cánh quân của Toa Đô cũng từ Champa đánh thúc ra. Nhưng khắp nơi nhân dân ta thực hiện “vườn không, nhà trống“ khiến giặc không cướp được lương thực. Sau lưng địch, các đội dân binh ngày đêm hoạt động, liên tục tiêu hao sinh lực của chúng...

    Tới tháng 5-1285, quân ta bắt đầu phản công. Mở đầu chiến dịch, Trần Quốc Tuấn hạ đồn An Lỗ, chỗ sông Hồng nối với sông Luộc, cứ điểm tiền tiêu trên phòng tuyến của quân Nguyên dọc sông Hồng. Sau đó là các chiến thắng Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương đã phá vỡ hoàn toàn phòng tuyến ấy. Chiêu Thành Vương, Trần Quốc Toản và Nguyễn Khoái đánh đồn giặc ở bến Tây Kết (huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên). Trần Nhật Duật hạ đồn Hàm Tử (nay cũng thuộc huyện Khoái Châu). Trần Quang Khải tiêu diệt cứ điểm bến Chương Dương ở trên bờ sông Hồng (đối diện với làng Hàm Tử, nay thuộc huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây)... Khai thông được sông Hồng, quân ta tiến về Thăng Long. Tướng Trung Thành Vương đã đánh tới đồn giặc ở Giang Khẩu, bên cửa sông Tô (khu vực Hàng Buồm - Hà Nội ngày nay) do thiên hộ Mã Vinh chỉ huy. Vòng vây Thăng Long đang được khép lại. Thoát Hoan phải bốc cả đại bản doanh sang bên kia sông, đóng trên đất Gia Lâm và rồi đi đến quyết định là phải rút về nước để tránh nguy cơ bị tiêu diệt. Nhưng quân ta không cho chúng rút lui yên ổn. Các trận mai phục ở sông Như Nguyệt, ở Vạn Kiếp... đã diệt vô số quân giặc. Thoát Hoan phải chui vào ống đồng để lính khiêng chạy mới thoát khỏi chết.

    Tính ra, tới cuối tháng 6-1285, sau gần hai tháng phản công mãnh liệt của quân ta, khoảng nửa triệu quân xâm lược bị quét sạch ra khỏi bờ cõi. Cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai vô cùng gay go ác liệt nhưng chính vì thế mà thắng lợi của dân tộc ta càng vang dội.

    3. Tháng 12-1287, quân Nguyên vẫn do Thoát Hoan chỉ huy chia ba đường đánh nước ta. Hai đường bộ từ Quảng Tây và Vân Nam kéo sang. Một đường thủy từ biển kéo vào sông Bạch Đằng. Sau một số trận đánh ở vùng biên giới, Thoát Hoan đến được Vạn Kiếp. Tại đây, y dành thời gian để xây dựng một cứ điểm kiên cố. Sau đó y tiến về Thăng Long. Lại vẫn chủ trương tạm thời bỏ ngỏ kinh thành, quân ta vừa đánh cản địch vừa rút về phía hạ lưu sông Hồng. Ngày 29 tháng chạp Đinh hợi (2-2-1888), Thoát Hoan vào thành Thăng Long lại cũng trống rỗng như lần trước. Y tung ngay quân bộ và quân thủy đi truy kích vua Trần, nhưng không đạt kết quả. Như thế là không tiêu diệt được quân chủ lực Đại Việt, không bắt được bộ máy đầu não chỉ huy cuộc kháng chiến, chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của địch bắt đầu bị phá sản. Thoát Hoan quay về Thăng Long lo củng cố vùng chiếm đóng. Nhưng nạn thiếu lương thực đã đổ xuống đầu chúng. Đoàn thuyền tải lương của Trương Văn Hổ mãi không thấy đến (kỳ thực bọn này đã bị ta tiêu diệt từ tháng chạp ở ngoài biển). Cướp bóc của dân thì chẳng được là bao vì các làng xóm Đại Việt đã thực hiện "vườn không nhà trống". Trong khi đó các đội dân binh ở mọi nơi không ngừng tập kích các doanh trại và căn cứ của địch. Thăng Long đối với Thoát Hoan trở thành hoàn toàn bị cô lập, có nguy cơ bị bao vây và tiến công như lần trước. Sau trên một tháng chiếm đóng, hắn đành phải bỏ Thăng Long mà rút về bên kia sông, trở lại Vạn Kiếp. Đó là ngày 2 tháng hai Mậu Ngọ (5-3-1288). Về Vạn Kiếp, Thoát Hoan thấy cũng không yên ổn vì liên tục bị các lực lượng vũ trang của ta tập kích. Rồi nạn thiếu lương thực ngày càng trầm trọng, quân sĩ ốm đau nhiều. Cuối cùng chỉ có cách rút luôn về nước là mới hy vọng sống. Thoát Hoan đành ra lệnh “hồi trào“, chia quân hai đạo theo hai đường thủy bộ mà rút. Nhưng rút cũng không dễ. Ngày 30-3-1288, Ô Mã Nhi chỉ huy quân thủy từ Vạn Kiếp đi ra biển. Nhưng hắn không thoát, cũng như số phận của trên một trăm chiến thuyền do hắn chỉ huy. Vì ngày 9-4-1288 toàn bộ chiến thuyền này sa vào bãi cọc Bạch Đằng của Trần Hưng Đạo và bị dìm sâu xuống đáy sông, Ô Mã Nhi bị bắt sống. Còn cánh quân bộ do Thoát Hoan chỉ huy rút theo ngả Lạng Sơn cũng khá khốn đốn trên đường chạy trốn. Luôn luôn chúng gặp phải quân ta, luôn luôn bị tiêu hao sinh lực, luôn luôn phải lẩn tránh, luồn rừng lội suối, để đến tận ngày 19-4-1288 Thoát Hoan mới vượt được biên giới về đến phủ Tư Minh.

    VĂN HỌC CHỮ NÔM XUẤT HIỆN VÀ NHỮNG BỘ SỬ ĐẦU TIÊN CỦA DÂN TỘC RA ĐỜI

    Đến đời Trần, chữ Nôm bắt đầu có địa vị văn học là một hiện tượng chứng minh rõ ràng tinh thần dân tộc đang nẩy nở. Chữ Nôm xuất hiện từ bao giờ, hiện nay chúng ta chưa biết được rõ ràng. Có lẽ là vào cuối thời Bắc thuộc. Nhưng chúng ta biết rằng chữ Nôm là công trình sáng tạo của nhân dân. Khi nhà nước tự chủ thành lập, để phổ biến các chính lệnh trong nhân dân thật rộng rãi, chữ Hán bấy giờ không làm được đầy đủ nhiệm vụ, mà phải đòi hỏi một thứ chữ ghi tiếng nói của dân tộc, dễ hiểu dễ nhớ. Trong việc giao dịch giữa nhân dân, chữ Nôm cũng trở nên cần thiết. Đến thời Trần, việc học chữ Hán đã tương đối phát triển, thế mà mỗi khi tuyên chiếu chỉ của nhà vua, nhân viên ty hành khiển còn phải giảng cả âm lẫn nghĩa. Do những nhu cầu đó, sang thời Lý-Trần, chữ Nôm phát triển. Đặc biệt đến đầu đời Trần, người ta đã dùng chữ Nôm để sáng tác. Trần Nhân Tông viết mấy bài phú chữ Nôm. Sử cũ cũng chép rằng Nguyễn Thuyên (tức Hàn Thuyên), Nguyễn Sĩ Cố đã làm thơ, làm phú bằng chữ Nôm. “Tháng 8 năm Nhâm Ngọ (1282)... có cá sấu đến sông Lô (tức sông Hồng - TG). Vua sai Hình bộ Thượng thư Nguyễn Thuyên làm bài văn ném xuống sông, cá sấu bỏ đi. Vua cho việc này giống như việc của Hàn Dũ(1) bèn ban gọi là Hàn Thuyên. Thuyên lại giỏi làm thơ phú quốc ngữ (tức chữ Nôm - TG). Thơ phú nước ta dùng nhiều quốc ngữ, thực bắt đầu từ đấy (Toàn thư, tập II. Sđd, tr. 47). Khi Trần Nhân Tông gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Thành, nhiều người đã làm thơ Nôm, lấy đề tài vua Hán gả Chiêu Quân (Vương Tường) cho Hung Nô, để chỉ trích. Đến cuối đời Trần, việc sáng tác văn học bằng chữ Nôm càng phát triển. Hồ Quý Ly hay dùng chữ Nôm. Trần Ngạc cũng đã dùng thơ Nôm để châm biếm Tư đồ Trần Nguyên Đán, khi Nguyên Đán kết thân với Hồ Quý Ly. Sách An Nam chí lược của Lê Trắc chép rằng chữ Nôm còn dùng để sáng tác các bản nhạc. Văn học chữ Nôm ra đời là một sự kiện lớn, báo hiệu sự phát triển của một nền văn học dân tộc chân chính. Sự xuất hiện các bộ sách lịch sử thời Lý - Trần cũng đánh dấu một bước phát triển của Nhà nước phong kiến Việt Nam. Giai cấp thống trị có ý thức rõ ràng về những việc làm của họ. Việc ghi chép lại những việc làm của tầng lớp vua chúa quý tộc là một điều cần thiết đối với nhà nước phong kiến. Nó có tác dụng lớn trong việc tuyên truyền để bảo vệ trật tự xã hội phong kiến. Những bộ sử đó, đến nay vẫn còn giúp chúng ta được rất nhiều trong việc nghiên cứu, khôi phục lại bộ mặt chân thực của xã hội bấy giờ. Hơn nữa, trong khi nhà nước dân tộc đang đóng vai trò tích cực trong việc chống ngoại xâm, những bộ sử đó đã ít nhiều biểu hiện tinh thần dân tộc, ý thức độc lập tự chủ. Quyển lịch sử đầu tiên, có lẽ là Sứ ký của Đỗ Thiện đời Lý. Sách này hiện nay không còn, chúng ta chỉ còn biết được một vài đoạn dẫn trong Việt điện u linh tập và Linh Nam chích quái.

    Đến thời Trần, việc chép sử được tổ chức chu đáo. Tại kinh đô Thăng Long, Quốc sử viện được thành lập. Trần Tấn soạn sách Việt chí. Trần Tấn nguyên làm chức Tả tàng, sau làm chức Hàn trưởng đời Trần Thái Tông. Những bộ thông sử hoàn chỉnh đầu tiên của dân tộc là do nhà sử học nổi tiếng Lê Văn Hưu biên soạn. Sử cũ chép: ”Tháng giêng năm Nhâm Thân (1272), Hàn lâm viện học sĩ kiêm Quốc sử viện Giám tu Lê Văn Hưu vâng sắc chỉ soạn xong bộ Đại Việt sử ký, từ Triệu Vũ đế đến Lý Chiêu Hoàng, gồm 30 quyển, dâng lên. Vua xuống chiếu khen ngợi” (Toàn thư, tập II. Sđd, tr. 38). Đại Việt sử ký là một bộ sử biên niên, đến nay không còn nguyên vẹn nữa. Bóng dáng của nó chỉ còn thấy trong 8 quyển đầu bộ Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên. Một số lời bình luận của Lê Văn Hưu mà Ngô Sĩ Liên còn chép lại cho ta thấy tinh thần yêu nước của ông. Cuối đời Trần, có bộ Đại Việt sử lược, tác giả khuyết danh, gồm 3 quyển: quyển 1 chép từ Triệu Đà đến Tiền Lê, quyển 2 và quyển 3 chép về nhà Lý. Sách viết vào khoảng sau năm 1377 . Bộ sách này thất truyền ở nước ta và được in lại ở Trung Quốc vào đời Thanh Càn Long (1736-1795) với tên là Việt sử lược. Một số người cho đây là một bản chép tóm tắt Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu. Vào cuối đời Trần, còn có Hồ Tông Thốc soạn Việt sứ cương mục và Việt Nam thế chí. Cả hai bộ sách đó đều không còn nữa. Ngô Sĩ Liên đã khen Việt sử cương mục “chép việc thận trọng mà có phép, bình việc thiết đáng mà không thừa”. Đời Trần còn có một số sách thực lục như: Trung hưng thực lục gồm 2 quyển, chép công tích của tướng sĩ trong cuộc chiến tranh chống Nguyên và bộ Thực lục của Nguyễn Trung Ngạn, chép việc Trần Minh Tông đánh Ai Lao.

    Về giáo dục, đời Trần đã có công thể chế hóa việc học hành thi cử. Ở Thăng Long, Quốc Tử Giám đời Lý được nâng cấp, mở rộng thành Đốc Học Viện. Năm 1227 mở khoa thi chọn người giỏi trong Tam Giáo (Nho, Phật, Đạo). Năm 1232 thi Nho học đầu tiên, người đỗ được gọi là Thái học sinh. Định lệ chia người đỗ làm Tam giáp (ba hạng). Năm 1247 trong Giáp thứ nhất lại đặt ba danh hiệu Tam khôi: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa. Cách gọi Tam giáp, Tam khôi tồn tại đến tận khoa thi cuối cùng đời Nguyễn năm 1919. (Riêng danh hiệu Trạng nguyên thì từ Gia Long đổi là Đình nguyên). Trong 175 năm đời Trần có hàng ngàn nho sĩ đỗ Thái học sinh. Cũng phải kể tới một thày giáo Thăng Long được đương thời và tận ngày nay tôn vinh là nhà văn hóa lớn, một vị sư biểu, đó là Chu Văn An (quê xã Quang Liệt, huyện Thanh Trì ).


    (1) Thượng sĩ, người tu đạo Phật tại gia, nay ta gọi là cư sĩ; "nhưng đây là cư sĩ hạng thượng thặng.

    (1) Dẫn theo Thơ văn Lý - Trần. Tập II, Quyển Thượng, H., 1988

    (2) Dẫn theo Thơ văn Lý - Trần. Tập II, Quyển Thượng, H., 1988

    (3) Dẫn theo Thơ văn Lý - Trần. Tập II, Quyển Thượng, H., 1988

    (1)Hàn Dũ: đời Đường (618-907), có tài văn chương. Tương truyền rằng khi làm quan ở Triều Châu, thấy nơi đó có nhiều cá sấu ông làm bài văn ném xuống sông, cá sấu liền bỏ đi hết



    Theo Thăng Long Hà Nội

Visitors found this page by searching for:

tình cảm của lý chiêu hoàng và trần thái tông

Th?i trang

Tag của Chủ đề này

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •