Cho biết về thực trạng y tế của mảnh đất Hà Nội xưa?

Rõ ràng là vào thời cổ - trước cả giai đoạn 1.000 năm Bắc thuộc - cả nước ta không có trường dạy về y học. Chỉ là dân gian truyền miệng cho nhau các phương thuốc chữa bệnh. Có thể người xưa đã tiếp thu cả những phương thuốc của các dân tộc người bà con ở Đông Nam Á nhưng vẫn chỉ là theo phương pháp truyền miệng. Từ thời Bắc thuộc (thế kỷ II tr.CN), mới bắt đầu có trường hợp nhưng không phải trường dạy về thuốc và cách trị bệnh mà chỉ là trường dạy Nho giáo, bằng chữ Hán và qua chữ Hán mà người học sẽ đọc các sách khoa học thực nghiệm của Trung Quốc. Ngày trước, nhà Nho thường kiêm thông Nho, y, lý, số. Nhiều nhà Nho đã trở thành thầy thuốc nổi tiếng nhưng thành công đó của họ chủ yếu là do công phu đọc sách cộng với thực tiễn nghiên cứu chữa trị. Ngoài lực lượng thầy chữa bệnh xuất thân từ nhà Nho này ra thì tất cả các ông lang, bà lang dân gian đều ít biết chữ - thậm chí không biết chữ - song nhờ học hỏi bà con, chiêm nghiệm, tự rút ra những bài học về phòng, chữa bệnh với nguồn dược liệu chủ yếu là cây nhà lá vườn mà trở thành người bốc thuốc chữa bệnh cho người dân trong khu vực mình sinh sống. Họ - những ông lang, bà lang dân gian - là lực lượng chữa bệnh chủ lực trong dân chúng. Bằng kinh nghiệm nhiều đời, họ tìm ra các loài thảo mộc và cả khoáng vật để tự chữa bệnh cho làng xóm. Dần dần, họ đúc kết những kinh nghiệm chữa trị thành những phương thuốc dân gian hữu hiệu và thông dụng. Chính các ông lang bà lang đó, với nền y tế dân gian, từ bao đời đã góp phần quan trọng trong việc phòng bệnh, chữa bệnh cho nhân dân.
Vào kỷ nguyên độc lập, khi trong dân chúng vẫn lưu truyền nền y tế dân gian, tự lo liệu cho mình thì các triều đình phong kiến đã tổ chức ra các cơ sở chữa bệnh. Những cơ sở này ban đầu chỉ phục vụ hoàng gia, sau có quan tâm đến dân chúng song cũng chỉ mới tổ chức y tế ở cấp trấn thành, tỉnh thành. Cụ thể là thời Lý có ty Thái y chuyên phục vụ cung đình, có các chức Viện sứ, Chánh ngự y, Phó ngự y và có thêm một số y sinh tức là những học sinh học theo kiểu truyền nghề trực tiếp. Thời Trần đổi viện Thái y, khi có dịch bệnh, triều đình cho sản xuất thuốc và phát cho dân. Thời Hồ, mở thêm Quảng tế thự là cơ quan y tế ở các trấn. Song có lẽ tất cả các cơ sở y tế này cũng chỉ là chữa bệnh cho quan lại, nha thuộc ở trấn thành. Thời Lê thì có Tế sinh đường mà chức năng giống như Quảng tế thự đời Hồ. Còn viện Thái y thì vẫn tồn tại và đặt trụ sở ở chỗ nay là chùa Phổ Giác, phố Ngô Sĩ Liên. Sang đời Nguyễn, Tế sinh đường chuyển thành ty Lương y.
Như vậy trong thời phong kiến, nền y tế ở Hà Nội cơ bản vẫn mang tính dân gian, dân tự lo liệu lấy việc chữa trị là chính. Thầy thuốc thì tự học, tự hành nghề. Dược liệu thì đa phần dựa vào các trại trồng thuốc, gọi là thuốc Nam và một số thì nhập từ Trung Quốc gọi là thuốc Bắc. Một số danh y người Thăng Long hoặc chủ yếu sinh sống ở Thăng Long được sử sách ghi tên như: Đời Lý có Thiền sư Minh Không (tu ở chùa Báo Thiên). Đời Trần có Chu Văn An (Thanh Trì), Phạm Công Bân (ông ngoại Hồ Quý Ly)… Đời Lê có Phan Phu Tiên (Từ Liêm), Chu Doãn Văn (Thanh Trì), Nguyễn Đạo An (Từ Liêm), Đặng Văn Xuyền (Gia Lâm), Nguyễn Hữu Đạo (Từ Liêm), Trịnh Đình Ngoạn (Thanh Trì)… Đời Tây Sơn có Nguyễn Quang Lương (Ba Đình). Đời Nguyễn có Nguyễn Huấn (Đông Anh), Trần Văn Nghĩa (Ba Đình), Ngô Tuấn Di (Thanh Trì)…